Yoo

Cân bằng phản ứng Ba + HCl = BaCl2 + H2 (và phương trình Ba + Cl2 = BaCl2)

Bari (Barium) là một nguyên tố hóa học có công thức là Ba với số hiệu nguyên tử là 56, nó là một kim loại kiềm thổ màu trắng bạc thuộc nhóm 2, chu kì 6 trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học. Bari có khả năng phản ứng mạnh mẽ nên vì vậy không thể tìm thấy bari dưới dạng nguyên tố tự do trong tự nhiên. Nguyên tố này được Carl Scheele nhận biết lần đầu tiên vào năm 1774, và Humphry Davy là người đã cô lập được bari nguyên tố vào năm 1808 tại Anh.

Bari có khối lượng mol nguyên tử là 137 g/mol, cấu hình là [Xe] 6s2 , độ âm điện là 0.89 với số oxi hóa là +2, bán kính nguyên tử là 0.22 nm. Bari có cấu trúc mạng tinh thể lập phương tâm khối.

Bari là một kim loại mềm có thể cắt được bằng dao, nhẹ và nổi trên nước, màu trắng bạc hơi ánh vàng khi ở trạng thái siêu tinh khiết. Nhiệt độ nóng chảy là 714oC, nhiệt độ sôi là 1640oC, nhiệt lượng nóng chảy là 7,12 kJ·mol−1, nhiệt bay hơi là 142 kJ·mol−1, nhiệt dung là 28,07 J·mol−1·K−1. Bari là kim loại dẫn điện tốt và có độ cứng hơn chì, khối lượng riêng 3,51 g/cm3 (ở 0 °C, 101.325 kPa). Rất khó để tổng hợp bari siêu tinh khiết vì vậy các tính chất của nó vẫn chưa được xác định chính xác.

Để nhận biết ta đưa vào ngọn lửa không màu, bari và các hợp chất của nó khi cháy sẽ tạo nên ngọn lửa màu lục hơi vàng.

Về tính chất hóa học thì bari là một chất khử mạnh hơn cả canxi là kali khi ở trạng thái ion. Bari phản ứng với khí hiđro ở điều kiện đun nóng tạo ra bari hiđrua. Bari tác dụng với phi kim, nó có khả năng phản ứng mạnh mẽ nên cần cất giữ ở trong bình rất kín hay ngâm trong dầu hỏa khan để tránh các va chạm dẫn đến bốc cháy và các phản ứng trong không khí ẩm tạo lớp màng oxit. Bari phản ứng với hầu hết các axit trừ trường hợp khi phản ứng với axit sunfuric, phản ứng sẽ dừng lại khi tạo thành lớp muối không tan trên bề mặt là bari sunfat BaSO4. Bari phản ứng mãnh liệt với nước ở nhiệt độ thường tạo dung dịch bazơ và giải phóng khí hiđrô. Bari tan trong dung dịch NH3 lỏng tạo ra dung dịch có màu xanh thẫm.

Bari chiếm 0,0425% trong vỏ Trái Đất và 13 µg/L trong nước biển, tồn tại trong các khoáng barit (ở dạng sulphat) và witherit (ở dạng cacbonat). Bari trong tự nhiên là hỗn hợp của 7 đồng vị bền gồm 130, 132 và từ 134 đến 138, đồng vị phổ biến nhất là 138Ba (71,7 %). Đã có 22 đồng vị của bari được tìm thấy, nhưng đa số chúng đều là các chất phóng xạ cao, có chu kỳ bán rã chỉ vài mili giây đến vài ngày.

Bari được sản xuất công nghiệp bằng phương pháp điện phân nóng chảy muối bari clorua BaCl2 hoặc trộn bari oxit với bột nhôm nghiền mịn ở nhiệt độ giữa 1100 và 1200 °C.

Bari có nhiều ứng dụng trong đời sống và sản xuất, chủ yếu trong sản xuất buji, ống chân không, pháo hoa và bóng đèn huỳnh quang. Hợp chất bari sulfat có màu trắng được dùng trong sản xuất sơn, trong chẩn đoán bằng tia X, và trong sản xuất thủy tinh. Hợp chất bari cacbonat được dùng làm bả chuột và có thể dùng trong sản xuất thủy tinh và gạch. Hợp chất bari nitrat và bari clorua được sử dụng để tạo màu xanh lá cây trong sản xuất pháo hoa. Hợp chất bari sulfua không tinh khiết phát ra lân quang khi đặt dưới ánh sáng. Ngoài ra các muối của bari, đặc biệt là bari sulfat, có khi cũng được sử dụng để uống hoặc bơm vào ruột bệnh nhân, để làm tăng độ tương phản của những tấm phim X quang trong việc chẩn đoán hệ tiêu hóa.

Một số phản ứng của bari:

Ba + 2HCl = BaCl2 + H2

Ba + Cl2 = BaCl2

Bạn cũng có thể thích..

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *