Yoo

Kim loại là gì (tìm hiểu các thông tin vấn đề liên quan)

Nội dung này về Kim loại là gì (tìm hiểu các thông tin vấn đề liên quan).

Kim loại là nguyên tố hóa học, kim loại có thể tạo ra được các ion Dương, đồng với đó phải có các liên kết kim loại. Tên tiếng anh của Kim loại là metal, Là chất có độ dẫn điện cao, kim loại liên kết với nhau theo một trật tự , nhiều kim loại không phản ứng với oxi  Pt, Au, Ag, Sắt là kim loại phổ biến bạn thường biết đến, và có ký hiệu hóa học là Fe…

Nội dung về Kim loại được chia sẻ từ Phương pháp tư duy ĐỀ HỌC (phương pháp tư duy đa chiều)

Nội dung về Kim loại được tạo từ phương pháp tư tưởng ĐỀ HỌC- tư tưởng này do Nguyễn Lương phát minh. ĐỀ HỌC cũng hướng tới các kỹ năng và phương pháp giải quyết Vấn đề. Đề Học gồm 4 Kiến thức lớn: Mục đích ; Sự phù hợp; Sự phát triển; Đặt trong trường cảnh, hoàn cảnh.

>> rooting là gì (tìm hiểu các thông tin vấn đề liên quan)

Kim Loại Là Gì (tìm Hiểu Các Thông Tin Vấn đề Liên Quan) Tayotu Com
Kim Loại Là Gì (tìm Hiểu Các Thông Tin Vấn đề Liên Quan) Tayotu Com

Nghiên cứu tìm hiểu Tính chất hóa học chung của kim loại

Tính chất đặc trưng của kim loại là tính khử (nguyên tử kim loại dễ bị oxi hóa thành ion dương):

                                  M → Mn+ + ne

1. Tác dụng với phi kim

>> Câu ghép là gì (tìm hiểu về Câu ghép)

Hầu hết các kim loại khử được phi kim điển hình thành ion âm

Ví dụ:

      4Al + 3O2 ==> 2Al2O3

      2Fe + 3Cl2 ==> 2FeCl3

      Hg + S → HgS

2. Tác dụng với axit

a) Đối với dung dịch HCl, H2SO4 loãng:

      M + nH+ → Mn+ + n/2H2

(M đứng trước hiđro trong dãy thế điện cực chuẩn)

b) Đối với H2SO4 đặc, HNO3 (axit có tính oxi hóa mạnh):

– Kim loại thể hiện nhiều số oxi hóa khác nhau khi phản ứng với H2SO4 đặc, HNO3 sẽ đạt số oxi hóa cao nhất

– Hầu hết các kim loại phản ứng được với H2SO4 đặc nóng (trừ Pt, Au) và H2SO4 đặc nguội (trừ Pt, Au, Fe, Al, Cr…), khi đó S+6 trong H2SO4 bị khử thành S+4 (SO2) ; So hoặc S-2 (H2S)

– Hầu hết các kim loại phản ứng được với HNO3 đặc nóng (trừ Pt, Au) và HNO3 đặc nguội (trừ Pt, Au, Fe, Al, Cr…), khi đó N+5 trong HNO3 bị khử thành N+4 (NO2)

– Hầu hết các kim loại phản ứng được với HNO3 loãng (trừ Pt, Au), khi đó N+5 trong HNO3 bị khử thành N+2 (NO) ; N+1 (N2O) ; No (N2) hoặc N-3 (NH4+)

– Các kim loại có tính khử càng mạnh thường cho sản phẩm khử có số oxi hóa càng thấp. Các kim loại như Na, K…sẽ gây nổ khi tiếp xúc với các dung dịch axit

Ví dụ:

       2Fe + 6H2SO4 (đặc) ==> Fe2(SO4)3 + 3SO2 + 6H2O

       4Mg + 5H2SO4 (đặc) ==> 4MgSO4 + H2S + 4H2O

       Cu + 4HNO3 (đặc) → Cu(NO3)2 + 2NO2 + 2H2O

       3Cu + 8HNO3 (loãng) → 3Cu(NO3)2 + 2NO + 4H2O

3. Tác dụng với dung dịch muối

– Điều kiện để kim loại M đẩy được kim loại X ra khỏi dung dịch muối của nó:

+ M đứng trước X trong dãy thế điện cực chuẩn

+ Cả M và X đều không tác dụng được với nước ở điều kiện thường

+ Muối tham gia phản ứng và muối tạo thành phải là muối tan: xM (r) + nXx+ (dd) → xMn+ (dd) + nX (r)

– Khối lượng chất rắn tăng: ∆m↑ = mX tạo ra – mM tan

– Khối lượng chất rắn giảm: ∆m↓ = mM tan – mX tạo ra

– Hỗn hợp các kim loại phản ứng với hỗn hợp dung dịch muối theo thứ tự ưu tiên: kim loại khử mạnh nhất tác dụng với cation oxi hóa mạnh nhất để tạo ra kim loại khử yếu nhất và cation oxi hóa yếu nhất

– Với nhiều anion có tính oxi hóa mạnh như NO3-, MnO4-,…thì kim loại M sẽ khử các anion trong môi trường axit (hoặc bazơ)

Ví dụ:

    + Khi cho Zn vào dung dịch CuSO4 ta thấy lớp bề mặt thanh kẽm dần chuyển qua màu đỏ và màu xanh của dung dịch bị nhạt dần do phản ứng:

                             Zn + CuSO4 → ZnSO4 + Cu↓

+ Khi cho kim loại kiềm Na vào dung dịch CuSO4 ta thấy có sủi bọt khí không màu và xuất hiện kết tủa keo xanh do các phản ứng:

                            Na + H2O → NaOH + 1/2H2 và CuSO4 + 2NaOH → Cu(OH)2↓ + Na2SO4

+ Khi cho bột Cu vào dung dịch Cu(NO3)2 có vài giọt HCl ta thấy có khí không màu thoát ra và hóa nâu trong không khí do phản ứng:

                           3Cu + Cu(NO3)2 + 8HCl → 4CuCl2 + 2NO + 4H2O

4. Tác dụng với nước

– Các kim loại mạnh như Li, Na, K, Ca, Sr, Ba…khử nước dễ dàng ở nhiệt độ thường theo phản ứng: M + nH2O → M(OH)n + n/2H2. Kim loại Mg tan rất chậm và Al chỉ tan khi ở dạng hỗn hống (hợp kim của Al và Hg)

– Các kim loại trung bình như Mg, Al, Zn, Fe…phản ứng được với hơi nước ở nhiệt độ cao tạo oxit kim loại và hiđro

Ví dụ:

       Mg + H2O(h) ==> MgO + H2

       3Fe + 4H2O(h) ==> Fe3O4 + 4H2

       Fe + H2O(h) ==> FeO + H2

– Các kim loại có tính khử yếu như Cu, Ag, Hg…không khử được nước dù ở nhiệt độ cao

5. Tác dụng với dung dịch kiềm

Các kim loại mà hiđroxit của chúng có tính lưỡng tính như Al, Zn, Be, Sn, Pb…tác dụng được với dung dịch kiềm (đặc). Trong các phản ứng này, kim loại đóng vai trò là chất khử, H2O là chất oxi hóa và bazơ làm môi trường cho phản ứng

Ví dụ: phản ứng của Al với dung dịch NaOH được hiểu là phản ứng của Al với nước trong môi trường kiềm và gồm hai quá trình:

         2Al + 6H2O → 2Al(OH)3 + 3H2

          Al(OH)3 + NaOH → Na[Al(OH)4]

Cộng hai phương trình trên ta được một phương trình:

         2Al + 6H2O + 2NaOH → 2Na[Al(OH)4] + 3H2

6. Tác dụng với oxit kim loại

Các kim loại mạnh khử được các oxit kim loại yếu hơn ở nhiệt độ cao thành kim loại

Ví dụ: 2Al + Fe2O3 ==> 2Fe + Al2O3

Tìm hiểu kiến thức kim loại trong đời sống: Ảnh hưởng của các kim loại nặng lên sức khỏe của con người

Kim loại nặng là những kim loại có tỷ trọng >5mg/cm3: Crôm(Cr) (7,15g/cm3), Chì(Pb) (11,34 g/cm3), Thủy ngân(Hg) (15,534 g/cm3), Cadimi(Cd) (8,65 g/cm3), Asen(As) (5,73 g/cm3), Mangan(Mn) (7,21 g/cm3),… được được chia làm 3 loại:

Kim loại độc (Hg, Cr, Pb, Zn, Cu, Ni, Cd, As, Co, Sn, Mn,..),

Kim loại quý (Pd, Pt, Au, Ag, Ru,),

Kim loại phóng xạ (U, Th, Ra, Am,..).

Kim loại nặng không độc khi ở dạng nguyên tố tự do, nhưng rất độc ở dạng Ion, vì nó có thể gắn kết các chuỗi cacbon ngắn khó đào thải và gây ngộ độc.

  1. ASEN (Thạch tín)

Asen là một á kim rất độc, được mệnh danh là “Vua của các chất độc” hay “chất độc của các Vua”, nó có thể giết chết ngay một người trưởng thành nếu uống một lượng bằng nửa hạt ngô (bắp); Theo PGS.TS.BS Nguyễn Huy Nga, Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế, Bộ Y tế: “Asen là một chất độc, độc gấp 4 lần thủy ngân”; Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC) và liên minh Châu Âu (EU) công nhận đây là chất gây ung thư nhóm I; Độc tính của Asen phụ thuộc rất nhiều vào dạng hóa học của nó. Nhìn chung, Asen ở dạng hợp chất hữu cơ ít độc hơn dạng hợp chất Asen vô cơ.

Asen (thạch tín) có ở đâu?

Asen là một nguyên tố không chỉ có trong nước mà còn có trong không khí, đất, thực phẩm. Asen và các hợp chất của nó được sử dụng như là thuốc trừ dịch hại, thuốc trừ cỏ, thuốc trừ sâu và trong một loạt các hợp kim.

Nếu bị ngộ độc cấp tính bởi Asen sẽ có biểu hiện: khát nước dữ dội, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy, mạch đập yếu, mặt nhợt nhạt rồi thâm tím, bí tiểu và tử vong nhanh. Nếu bị nhiễm độc asen ở mức độ thấp, mỗi ngày một ít với liều lượng dù nhỏ nhưng trong thời gian dài sẽ gây mệt mỏi, buồn nôn và nôn, hồng cầu và bạch cầu giảm, da sạm, rụng tóc, sút cân, giảm trí nhớ, mạch máu bị tổn thương, rối loạn nhịp tim, đau mắt, đau tai, viêm dạ dày và ruột, làm kiệt sức, ung thư… Người uống nước ô nhiễm asen lâu ngày sẽ có các đốm sẫm màu trên thân thể hay đầu các chi, niêm mạc lưỡi hoặc sừng hoá da, gây sạm và mất sắc tố, bệnh Bowen (biểu hiện đầu tiên là một phần cơ thể đỏ ửng, sau đó bị chảy nước và lở loét); Bệnh sừng hoá da thường xuất hiện ở tay, chân, lòng bàn tay, gan bàn chân – phần cơ thể cọ xát nhiều hoặc tiếp xúc ánh sáng nhiều lâu ngày sẽ tạo thành các đinh cứng màu trắng gây đau đớn.Bệnh đen và rụng móng chân có thể dẫn đến hoại tử, rụng dần từng đốt ngón chân.

Tình trạng nhiễm độc asen lâu ngày còn có thể gây ung thư (gan, phổi, bàng quang và thận) hoặc viêm răng, khớp, gây bệnh tim mạch, cao huyết áp. Ảnh hưởng độc hại đáng lo ngại nhất của Asen tới sức khoẻ là khả năng gây đột biến gen, ung thư, thiếu máu, các bệnh tim mạch (cao huyết áp, rối loạn tuần hoàn máu, viêm tắc mạch ngoại vi, bệnh mạch vành, thiếu máu cục bộ cơ tim và não), các loại bệnh ngoài da (biến đổi sắc tố, sạm da, sừng hoá, ung thư da…), tiểu đường, bệnh gan và các vấn đề liên quan tới hệ tiêu hoá, các rối loạn ở hệ thần kinh – ngứa hoặc mất cảm giác ở chi và khó nghe.

Sau 15 – 20 năm kể từ khi phát hiện, người nhiễm độc Asen (thạch tín) sẽ chuyển sang ung thư và chết.

Liều gây ngộ độc:

Lượng ăn vào hàng tuần có thể chấp nhận được tạm thời 0,015 mg/kg thể trọng (tính theo Arsen vô cơ) (theo QCVN 8-2: 2011/BYT); Liều gây ngộ độc cấp: 60mg As2O3. Liều chết người: 70 – 80mg As­2O3. Canotte New Orleans Liều tối đa có thể chấp nhận hàng ngày cho một người lớn: 0.05mg/kg thể trọng (theo GS -TS Trần Đáng).

  1. Air Jordan 4 RetroTHUỶ NGÂN (Hg).

Thủy ngân là một kim loại rất độc, có thể gây tổn thương não và gan nếu con người tiếp xúc hít thở hay ăn phải. Nó có thể tấn công hệ thần kinh trung ương và hệ nội tiết, ảnh hưởng tới miệng, các cơ quai hàm, răng và có thể gây khuyết tật với thai nhi…

Thủy ngân (nước bạc) có ở đâu?

Thuỷ ngân có trong đất đá, bầu khí quyển. ADIDAS NMD Trong khí quyển, thuỷ ngân tồn tại chủ yếu ở dạng hợp chất có công thức là: HgO và (CH3)2Hg. Thời gian tồn tại của Hg trong bầu khí quyển khoảng hơn 1 năm.Thuỷ ngân có trong bùn cống rãnh: theo Andersson (1985) cho rằng, mức 5-10 μg/g Hg là một đặc trưng của bùn.Thủy ngân tinh khiết hầu hết tập trung trong các loại khoáng ở trong đá, việc đào và khai thác mỏ kim loại, đặc biệt là Cu và Zn đã giải phóng Hg và ô nhiễm vào đất. adidas gazelle bordeaux blanc Thủy ngân có rất nhiều trong đất than đá, theo Brosse (1989) đã phát hiện 50% Hg phát ra từ đất than đá trong quá trình đốt than đá. Nike Air Max Thea Print Women

Quá trình sản xuất công nghiệp, đặc biệt là quá trình sản xuất chlorate kali, có liên quan tới Hg, Cl, luyện kim và chất ăn da Soda cũng phát thải nhiều Hg.

Thủy ngân được sử dụng chủ yếu trong sản xuất các hóa chất, trong kỹ thuật điện và điện tử, hỗn hống nha khoa. Nó cũng được sử dụng trong một số nhiệt kế, máy đo huyết áp. Tác hại cấp tính do nhiễm độc thủy ngân có các triệu chứng như ho, khó thở, sốt, buồn nôn, cảm giác đau thắt ở ngực. Nike Cortez homme Bệnh nhân có biểu hiện rét run, tím tái, nặng hơn có thể ngất đi và tử vong; Tác hại mãn tính như gây tác động nghiêm trọng đến hệ thần kinh và thận, về lâu dài có thể bị ung thư. Thủy ngân vô cơ tác động chủ yếu đến thận, trong khi đó methyl thủy ngân (CH3)Hg+ ( ảnh hưởng chính đến hệ thần kinh trung ương. NIKE AIR PRESTO Flyknit Ultra Sau khi nhiễm độc, người bệnh dễ bị kích thích, cáu gắt, xúc động, rối loạn tiêu hóa, rối loạn thần kinh,viêm lợi, run chân. Nếu bị nhiễm độc nặng có thể tử vong. Nhiễm độc methyl thủy ngân còn dẫn tới phân lập thể nhiễm sắc, phá vỡ thể nhiễm sắc và ngăn cản phân chia tế bào. Động vật bị nhiễm độc do ăn phải thực vật bị nhiễm thủy ngân làm hư hại não, cơ bắp suy yêu, run rẩy…

Chứng bệnh Minamata(căn bệnh gây ra khi ăn một lượng lớn cá và sò trong vùng biển bị ô nhiễm nặng vì methyl thủy ngân thải ra vịnh Minamata) là một dạng ngộ độc thủy ngân. Thủy ngân tấn công hệ thần kinh trung ương, hệ nội tiết và ảnh hưởng tới miệng, các cơ quai hàm và răng. Sự phơi nhiễm kéo dài gây ra các tổn thương não và gây tử vong, nó có thể gây ra các rủi ro hay khuyết tật.

Liều gây ngộ độc:

Liều ngộ độc cấp tính, thường tử vong: 150 – 200mg. nike air max thea donna Delanie Walker Titans Jersey Liều ngộ độc mạn tính sau vài tuần: 0.5 – 0.4mg/24h. Liều gây chết: 1 gam. ray ban pas cher Liều: 0.007 mg/24h có thể gây nhiểm độc ở những người không chịu đựng được.(theo GS – TS Trần Đáng).

Lượng ăn vào hàng tuần có thể chấp nhận được tạm thời: 0,005 mg/kg thể trọng (theo QCVN 8-2: 2011/BYT).

CHÌ (Pb).

Chì (Pb): là nguyên tố có độc tính cao đối với sức khoẻ con người. Chì gây độc cho hệ thần kinh trung ương, hệ thần kinh ngoại biên, tác động lên hệ enzim có. Người bị nhiễm độc chì sẽ bị rối loạn bộ phận tạo huyết (tuỷ xương). Tuỳ theo mức độ nhiễm độc có thể bị đau bụng, đau khớp, viêm thận, cao huyết áp, tai biến não, nhiễm độc nặng có thể gây tử vong. Đặc tính nổi bật là sau khi xâm nhập vào cơ thể, chì ít bị đào thải mà tích tụ theo thời gian rồi mới gây độc. Chì đi vào cơ thể con người qua nước uống, không khí và thức ăn bị nhiễm chì. Chì tích tụ ở xương, kìm hãm quá trình chuyển hoá canxi bằng cách kìm hãm sự chuyển hoá vitamin D.

Chì có ở đâu?

Chì có trong ắc quy sử dụng cho xe, trong sơn. AIR MAX 2016

Chì có trong thành phần màu trong tráng men đặc biệt là tạo màu đỏ và vàng. ADIDAS ULTRA BOOST

Chì cũng được sử dụng trong lưới đánh cá của ngư dân….

Liều gây ngộ độc:

Nếu liều 0.5 mg/ngày bắt đầu có triệu chứng ngộ độc, thì liều 10mg/ngày ngộ độc nặng sau vài tuần. Mujer Air Jordan 14 Liều tử vong: 1gam chì (tương đương 5% acetat chì) hấp thụ vào cơ thể một lần. Cardale Jones Ohio State Buckeyes Jersey (theo GS – TS Trần Đáng).

Lượng ăn vào hàng tuần có thể chấp nhận được tạm thời: 0,025 mg/kg thể trọng (theo QCVN 8-2: 2011/BYT).

  1. MANGAN (Mn)

Mangan (Mn) là nguyên tố vi lượng, nhu cầu mỗi ngày khoảng 30 – 50 mg/kg trọng lượng cơ thể. Nếu hàm lượng lớn gây độc cho cơ thể; gây độc với nguyên sinh chất của tế bào, đặc biệt là tác động lên hệ thần kinh trung ương, gây tổn thương thận, bộ máy tuần hoàn, phổi, ngộ độc nặng gây tử vong.

Mangan đi vào môi trường nước do quá trình rửa trôi, xói mòn, do các chất thải công nghiệp luyện kim, acqui, phân hoá học. Jamie Collins Tiêu chuẩn qui định của WHO trong nước uống là £ 0,1 mg/l. Sử dụng nguồn nước nhiễm Mangan hàng ngày vượt quá mức độ cho phép biểu hiện sức khỏe suy giảm theo tiến trình sau:

Từ 1-5 nămTừ 5-10 nămTừ 10-15 năm
– Mệt mỏi– Da trở nên bị sừng hóa– Ung thư da
– Buồn nôn và nôn– Mạch máu bị tổn thương– Ung thư bang quang
– Hồng cầu và bạch cầu giảm– Ảnh hưởng dến thai nhi khi phụ nữ mang thai (có thể gây sẩy thai)– Ung thư phổi
– Rối loạn nhịp tim– Ung thư gan– Ung thư thận
– Thay đổi sắc tố da – Nguy hại đến hệ thống thần kinh

(Theo nghiên cứu của PGS.TS. Trần Hồng Côn, Khoa Hoá học, Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN)

  1. CADIMI (Cd).

Cadimi là kim loại có độc tính cao đối với động vật thủy sinh và con người. Khi người bị nhiễm độc Cadimi, tuỳ theo mức độ nhiễm sẽ bị ung thư phổi, thủng vách ngăn mũi, đặc biệt là gây tổn thương thận dẫn đến protein niệu. Adidas Zx 750 Homme Ngoài ra còn ảnh hưởng tới nội tiết, máu, tim mạch…

Cadimi có ở đâu có ở đâu?

Cadimi có sẵn trong đất, đá. Đá núi lửa có chứa lượng Cd 0,1 – 0,3 mg/kg, trong các mỏ khai thác quặng mỏ than, mỏ quặng apatite, mỏ sielfhide có thể chứa 5% Cd. Cd có nhiều trong các loại Pin, que hàn. Cadimi có từ sản xuất công nghiệp như: các ngành sản xuất kim loại không có sắt, cũng như sự đốt cháy nhiên liệu hóa thạch thải ra và việc sản xuất sắt và thép đã phát thải Cd lắng đọng ở bầu khí quyển. Cadimi có từ nguồn phân bón: Phân phosphate chứa lượng Cd cao, những loại phân phosphate đang trở thành nguồn Cd có mặt hầu như khắp nơi, gây ô nhiễm cho đất nông nghiệp.

Nhiễm độc Cadimi xảy ra tại Nhật ở dạng bệnh “itai itai” hoặc “Ouch Ouch” làm xương trở nên giòn, ở nồng độ cao, Cadimi gây đau thận, thiếu máu và phá hủy tủy xương.

Liều gây ngộ độc:

Liều gây ngộ độc nghiêm trọng từ 10mg.

Bạn cũng có thể thích..

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.