Yoo

Ví dụ về Triết Học ( triết học là gì)

Triết học là hình thức lý luận của thế giới quan, dùng để chỉ những cái nhìn căn bản  quan điểm cơ bản của con người về thế giới bên ngoài. Hầu hết mọi người đều có thế giới quan riêng, nhưng loại thế giới quan này bắt nguồn từ kinh nghiệm sống đơn giản và tri thức cụ thể, mang tính phân tán, không hệ thống.

Dưới góc độ tri thức nhân loại, triết học là sự khái quát, tổng hợp các tri thức tự nhiên, tri thức xã hội và tri thức tư duy, dưới góc độ đối tượng nghiên cứu, đối tượng của triết học là những bản chất, quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội loài người và tư duy của con người.

Theo quan điểm tư tưởng, triết học là hình thái ý thức xã hội tổng quát, trong điều kiện tồn tại giai cấp, nó mang tính giai cấp. Dưới góc độ lịch sử phát triển, toàn bộ lịch sử triết học là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, lịch sử của cuộc đấu tranh giữa phép biện chứng và phép siêu hình.

Triết học là sự thống nhất giữa nhân sinh quan và phương pháp luận thế giới. Phương pháp luận đề cập đến những phương pháp và nguyên tắc chung nhất để quan sát sự vật và giải quyết vấn đề được hình thành dưới sự hướng dẫn của một thế giới quan nhất định. Thế giới quan chứa đựng phương pháp luận, phương pháp và nguyên tắc thấm nhuần thế giới quan, thế giới quan và phương pháp luận là thống nhất.

Ví dụ về triết học cho thấy bản chất con người nằm ở việc tìm kiếm kiến thức.

Câu đầu tiên của Aristotle trong cuốn “Siêu hình học” là: “Tự nhiên ai cũng muốn biết.” Aristotle dùng phương châm này để minh họa nguồn gốc của triết học. Một câu châm ngôn tương tự như câu này là: “Triết học bắt nguồn từ sự nhàn hạ và bất ngờ.”

Aristotle giải thích: Bản chất con người tìm kiếm kiến thức là một hoạt động suy đoán nhằm tìm kiếm kiến thức và tìm kiếm trí tuệ để tìm kiếm sự thông thái. Nó không tuân theo bất kỳ lợi ích vật chất và mục đích bên ngoài nào, vì vậy nó là hoạt động học tập tự do nhất.

Suy đoán triết học ban đầu được thể hiện là “ngạc nhiên”, và ngạc nhiên là tò mò. Các nhà triết học đầu tiên, vì tò mò muốn hỏi tận cùng câu hỏi và biết họ là gì, đã rất ngạc nhiên trước một số hiện tượng trước mặt họ, chẳng hạn như mặt trời, mặt trăng, các vì sao, gió, mưa, v.v. Sau đó tiến hành từng chút một để đề xuất nguồn gốc của vũ trụ và nguồn gốc của vạn vật.

Ngoài “tính bất ngờ”, tham gia vào các hoạt động triết học còn phải có sự “nhàn hạ”. Hãy tưởng tượng rằng nếu một người đang chạy khắp nơi để kiếm sống mỗi ngày, làm sao có thời gian để “bất ngờ”? Nếu một người thậm chí không thể đủ ăn thì làm sao anh ta có tâm trạng để khám phá những câu hỏi triết học gần như ngông cuồng? Ở Hy Lạp cổ đại, các triết gia chủ yếu là quý tộc, họ không phải làm việc để kiếm sống, vì vậy họ có thể tham gia vào các hoạt động đầu cơ thuần túy.

Aristotle đã coi “nhàn hạ” là điều kiện cần thiết để suy đoán triết học. Hy Lạp cổ đại có chế độ chiếm hữu nô lệ phát triển hơn bất kỳ quốc gia nào khác và giới quý tộc được hưởng thụ sự nhàn hạ. Nhưng nhàn hạ chỉ là điều kiện cần cho mọi hoạt động trí óc chứ không phải là điều kiện đủ. Khả năng sử dụng sự nhàn rỗi để tham gia vào các suy đoán triết học là một điểm đặc biệt của người Hy Lạp.

Nhiều bạn yêu thích triết học thường đặt ra những câu hỏi như sau: Công dụng của triết học là gì? Câu hỏi này thực sự khó trả lời. Như Aristotle đã nói, tìm kiếm kiến thức là bản chất của con người. Heidegger cũng nói rằng nếu người ta phải hỏi về mục đích của triết học, tôi thà nói: triết học là vô dụng.

Một thanh niên đến gặp Socrates và nói, “Socrates, tôi muốn học triết học từ bạn.” Socrates hỏi anh ta, “Bạn muốn học gì? Sau khi học luật, bạn có thể thành thạo các kỹ năng tranh tụng; bạn đã học chế biến gỗ.” “Bạn có thể làm đồ nội thất, nếu bạn học kinh doanh, bạn có thể kiếm tiền. Vậy nếu bạn học triết học thì bạn có thể làm gì trong tương lai?”. Socrates muốn truyền cảm hứng cho chàng trai trẻ này. Triết học không có giá trị thực tế.

Ngoài ra còn có một câu chuyện về một triết gia và người lái thuyền có một cuộc trò chuyện trên tàu. “Bạn có biết triết học không?” “Tôi không hiểu.” “Vậy thì bạn mất ít nhất một nửa cuộc đời mình.” “Bạn có biết toán học không?” “Tôi không hiểu.” “Vậy thì bạn đã mất đi 80% đời sống.”. Đột nhiên, một cơn sóng lớn làm lật thuyền, cả triết gia và người lái thuyền đều rơi xuống nước. Thấy nhà triết học đang vùng vẫy dưới nước, người chèo thuyền hỏi nhà triết học: “Ông có biết bơi không?” “Không… ông…” “Vậy thì ông sẽ mất 100% mạng sống”.

Có vẻ như triết học thực sự vô dụng, thậm chí không thể cứu được mạng sống vào thời điểm quan trọng. Tốt hơn hết là bạn nên học một kỹ năng có công dụng thực tế. Nhưng tìm kiếm kiến thức là bản chất tự nhiên của con người, và con người sẽ không xác định liệu một kiến thức có hữu ích hay không trước khi quyết định có tiếp tục suy nghĩ hay không. Tương tự, triết học sẽ không được con người lựa chọn vì tính “hữu dụng” và “vô dụng.” Thực tế, bạn sống trong triết học mọi lúc, và con người là “triết học” trong phân tích cuối cùng. Vì vậy, triết học sẽ không bao giờ chết, bởi vì con người không thể phủ nhận bản chất của chính mình.

Bạn cũng có thể thích..

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *